1
Bạn cần cá kho Trần Luận hỗ trợ gì?

Cá kho làng Vũ Đại - cơ sở Trần Luận

Giới thiệu nhà văn liệt sĩ Nam Cao - Người con làng Vũ Đại

nha van nam caoNam Cao (1915 – 1951) là bút danh của nhà văn - nhà báo - liệt sĩ Trần Hữu Tri. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, nay thuộc Hòa Hậu, Lí Nhân, Hà Nam (cách TP. Nam Định 5 km)

Học xong thành chung, Nam Cao bôn ba nhiều nơi, nhưng bệnh tật đẩy ông về quê. Từ đó, Nam Cao sống chật vật bằng nghề dạy học và viết văn. Năm 1943 , ông vào Hội Văn hoá cứu quốc. Tham gia Tổng khởi nghĩa ở quê hương, ông được cử làm chủ tịch xã.

Xem thêm: Món cá kho nổi tiếng quê hương Nam Cao 

Tour du lịch về thăm làng Vũ Đại

I. Cuộc đời và con người
1. Sơ lược về tiểu sử

Sau Cách mạng, với tư cách phóng viên - Nam Cao có mặt trong đoàn quân Nam tiến, rồi lên chiến khu Việt Bắc làm công tác văn nghệ. Cuối tháng 11 năm 1951, trên đường đi công tác vào vùng địch tạm chiếm, Nam Cao anh dũng hi sinh tại làng Vũ Đại, huyện Gia Viễn, Ninh Bình, khi tài năng đang nở rộ; gần đây (1998), mộ phần của ông đã được đưa về quê hương.

Là cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện thực (1940 - 1945), là người đi tiên phong trong việc xây dựng nền văn học mới, Nam Cao được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1,1996).

ĐỌC: Tác phẩm chí Phèo nổi tiếng của Nam Cao

 

2. Con người

Những ai từng sống, chiến đấu với Nam Cao đều thấy rõ ba đặc điểm trong tích cách của ông.

Nhìn bề ngoài, Nam Cao có phần vụng về, ít nói, lạnh lùng nhưng nội tâm thì luôn luôn sôi sục, căng thẳng. Trong ông thường diễn ra xung đột gay gắt giữa “lòng nhân đạo và thói ích kỷ, giữa tinh thần dũng cảm và thái độ hèn nhát, giữa tính chân thực với sự giả dối, giữa khát vọng cao cả với mong muốn tầm thường”. Các trang viết về tri thức nghèo thể hiện rất rõ đặc điểm trên đây trong con người Nam Cao.

Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Xuân Diệu

Nam Cao sống ân tình với người nghèo khổ, bị áp bức, khinh miệt. Ông cho rằng: không có tình thương thì không xứng đáng được gọi là Người. Trước Cách mạng, Nam Cao mang nặng tâm sự u uất của một trí thức tài cao phận thấp, nhưng không khinh bạc, “ngất ngưởng” như Nguyễn Tuân... Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ông cũng giữ trọn tấm lòng nhân hậu, hiền hòa. Không nỡ ăn bát cơm ngon dành riêng cho mình, Nam Cao muốn chia đều cho cả nhà... Vì vậy, viết về người nghèo, ngòi bút Nam Cao lúc nào cũng tràn đầy niềm xót thương, cảm thông...

ĐỌC: Tác phẩm  Nghèo 

Ông luôn luôn trăn trở, suy tư về bản thân và cuộc sống. Vì thế, từ những chuyện nhỏ nhặt, thường ngày, Nam Cao nêu được nhiều vấn đề xã hội lớn lao, nhiều bài học triết lý sâu sắc. Với mình thì khiêm nhường, với người thì trân trọng. Đánh giá văn học thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, ông viết “Nguyễn Huy Tưởng dẫn đầu ... Tố Hữu, Kim Lân thứ nhì; Nam Cao bét, bởi vì xét ra vẫn cũ...”

Ba đặc điểm trên đây ảnh hưởng nhiều đến phong cách sáng tác của Nam Cao.

II. Sự nghiệp văn học

Mười năm cầm bút, Nam Cao để lại cho đời một khối lượng sáng tác khá đồ sộ - “Toàn tập Nam Cao” gồm 1400 trang được hoàn thiện năm 1999.

1. Quan điểm nghệ thuật

Sinh thời, Nam Cao thường suy nghĩ về vấn đề “sống và viết”. Sự nghiệp của ông bắt đầu bằng các trang văn lãng mạn. Lúc này, quan điểm sáng tác lãng mạn ảnh hưởng đến Nam Cao khá rõ. Nhưng rồi, tác giả nhận ra: văn chương lãng mạn có phần xa lạ với đời sống lầm than, nhà văn lãng mạn thoát li không ưa sự thật; âm điệu ảo não, thất tình tràn đầy các trang sách của họ.
phong cách nghệ thuật của nam cao
Sau bao trăn trở, khi nhận ra: “nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối”, Nam Cao khước từ chủ nghĩa lãng mạn để coi trọng nghệ thuật hiện thực vị nhân sinh. Trong thời kì này, “Trăng sáng” (1943) được xem là một tuyên ngôn nghệ thuật. Truyện ngắn trên đánh dấu bước trưởng thành của Nam Cao về quan điểm sáng tác. Nó thể hiện cuộc đấu tranh day dứt của nhà văn Điền trước hai lối viết, hai cách sống (mơ mộng hay thực tế; lãng mạn hay hiện thực ...). Qua Điền, Nam Cao thiết tha khẳng đinh: “nghệ thuật có thể chỉ là tiếng kêu đau khổ kia toát ra từ những kiếp lầm than”. Vì thế, văn nhân không được “trốn tránh” sự thật, mà “cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời”. Sau “Trăng sáng”, Nam Cao là nhà văn hiện thực – người thư kí trung thành của thời đại. Với quan niệm “chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội”, văn chương sẽ không có giá trị, ông nghĩ: viết thì “rất cần sự thực”. Từ những việc nhỏ nhoi, xoàng xĩnh, người sáng tác phải nêu được những vấn đề có ý nghĩa xã hội.

Đọc tác phẩm: Cái chết của con mực

Tác phẩm văn học có giá trị phải thể hiện nội dung nhân đạo sâu sắc, “chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bằng… Nó làm cho người gần người hơn” (Đời thừa). Trước Cách mạng, Nam Cao đã coi trọng đôi mắt tình thương và khẳng định: nhà văn phải là nhà nhân đạo. Qua “Trăng sáng”, “Đời thừa”,... ông muốn văn học phản ánh cuộc đời của tầng lớp sống dưới đáy xã hội. Từ bi kịch của Hộ, Nam Cao khuyên nhà văn tạm thời hi sinh nghệ thuật đề giữ lối sống nhân đạo.

Hơn ai hết, Nam Cao coi nghề văn là nghề sáng tạo, nhà văn là nhà sáng tạo. Đành rằng, làm nghề gì cũng phải sáng tạo, nhưng yêu cầu này đối với các tác gia nghệ thuật khắt khe hơn nhiều. Trong cuộc sống, sáng tạo là làm ra những sản phẩm tinh thần, vật chất chưa từng có; nhà văn phải biết tìm tòi, “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”... Đối lập với sáng tạo là sự cẩu thả -cẩu thả trong nghề văn chẳng những “bất lương” mà còn “đê tiện”.

Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Xuân Quỳnh

Nam Cao đã thực hiện ba quan điểm trên trong từng trang sách. Ông không chỉ xây dựng được những tính cách điển hình vô tiền khoáng hậu (trước chưa có, sau chưa thấy) mà còn là người đầu tiên phản ánh sâu sắc hiện tượng nông dân lương thiện tha hóa thành quỷ giữ, trí thức tài năng vật lộn với bi kịch tinh thần nhằm bảo vệ nhân cách.

truyen chi pheo cua nam cao

Trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao sáng tác theo quan điểm hiện thực phê phán. Tuy vậy, nhiều trang viết của ông đã hé lộ nhân tố mới (Chí Phèo thức tỉnh, giết bá Kiến). Sau 1945, đặc biệt là từ kháng chiến chông Pháp, ông nêu quyết tâm: “sống đã rồi hãy viết”. “Sống” là cầm súng chiến đấu giải phóng dân tộc, sẵn sàng làm anh “tuyên truyền viên nhãi nhép” đem ngòi bút phục vụ công nông binh (Đôi mắt; Ở rừng). Ông vui vẻ nhận ra “góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn”. Quan điểm tiến bộ trên đây giúp Nam Cao thành nhà văn cách mạng, nghệ sĩ chân chính của thời đại.
chàng kỹ sư bỏ nghề kho cá
2. Các đề tài chính trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng

Trước 1945, tài năng Nam Cao kết tinh trong gần 60 truyện ngắn, một truyện vừa (Chuyện người hàng xóm), và tiểu thuyết Sống mòn. Tác phẩm của ông chủ yếu xoay quanh hai đề tài: người tri thức nghèo và nông dân bần cùng.

Ở đề tài thứ nhất, ấn tượng hơn cả là:

- Những truyện không muốn viết (1942)

- Trăng sáng (1943)

- Đời thừa (1943)

- Quên điều độ (1943)

             -Sống mòn (tiểu thuyết - 1944).

Qua các trang viết trên, Nam Cao miêu tả sâu sắc tấn bi kịch tinh thần của người tri thức nghèo trong xã hội cũ. Đó là những “giáo khổ trường tư”, nhà văn túng quẫn, viên chức nhỏ - nghèo... Qua họ, ông nêu lên nhiều triết lí sâu sắc, có ý nghĩa xã hội to lớn. Trí thức trong sáng tác của Nam là những người có tài năng, tâm huyết, biết tự trọng và ôm ấp hoài bão lơn lao (xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý) nhưng không thực hiện được vì nạn áo cơm ghì sát đất. Hộ thiết tha viết tác phẩm ăn giải Nô-ben; Thứ mong muốn được đóng góp công sức làm đổi thay nền giáo dục để xã hội công bằng. Vậy mà cả hai đều bị dồn vào tình trạng “chết mòn”, phải sống như “một kẻ vô ích, một người thừa”. Qua đề tài này, Nam Cao phê phán xã hội cũ giết chết tài năng, tàn phá tâm hồn nghệ sĩ. Ông cũng thể hiện thành công quá trình người trí thức tự đấu tranh, khắc phục mặt hạn chế, vươn lên giữ lối sống đẹp.

Ở đề tài thứ hai, Nam Cao viết chừng hai mươi truyện ngắn phản ánh cuộc đời tăm tối, số phận bi thảm của người nông dân; tiêu biểu là:

- Chí Phèo (1941)

- Trẻ con không được ăn thịt chó (1942).

- Lão Hạc (1943)

- Một bữa no (1943)

- Một đám cưới (1944)

Trong đó,”Chí Phèo” xứng đáng là kiệt tác. Viết về đề tài này, Nam Cao khắc họa bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam xơ xác , bần cùng trong khoảng thời gian 1940 -1945. Ông đặc biệt quan tâm tới tình trạng nghèo đói và quá trình một bộ phận thấp cổ bé họng bị tha hóa, bị cự tuyệt quyền làm người. Càng hiền lành họ càng bị chà đạp phũ phàng. Viết về nông dân, Nam Cao kết án đanh thép xã hội thực dân phong kiến đã huỷ hoại nhân hình, sói mòn nhân tính của những con người lương thiện. Không “bôi nhọ” nông dân, ông đi sâu vào nội tâm nhân vật để phát hiện, khẳng định nhiều phẩm chất cao cả của những người bị xã hội dập vùi.

lão hạc nam cao

Đó là hai đề tài quen thuộc, nhưng vì biết khơi những nguồn chưa ai khơi, Nam Cao vẫn tạo được sự hấp dẫn. Viết về nông dân hay trí thức, sáng tác của Nam Cao luôn luôn thể hiện nỗi băn khoăn day dứt trước số phận con người và thường lấy nguyên mẫu từ quê hương, bản thân. Sáng tác của ông chứa đựng nội dung triết học sâu sắc.

Sau Cách mạng, Nam Cao vẫn tiếp tục viết về nông dân, trí thức với “đôi mắt” mới.

Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Huy Cận

3. Nghệ thuật viết truyện của Nam Cao


Nam Cao có biệt tài phân tích và diễn tả những quá trình tâm lý phức tạp, những ngõ ngách sâu kín nhất trong tâm hồn con người. Nhờ vậy, ông khắc họa được những điển hình độc đáo. Am hiểu nhân vật, Nam Cao tạo nên nhiều đoạn đối thoại và độc thoại nội tâm rất chân thật, sinh động.

Truyện ngắn Nam Cao mang tính triết lý sâu sắc mà không khô khan. Tinh lọc qua trái tim chất chứa đau đớn, dằn vặt, ... câu chữ của Nam Cao kết hợp hài hòa giữa triết lí và trữ tình.

Nam Cao biết linh hoạt thay đổi giọng điệu. Ông có ý thức sử dụng hai giọng chủ yếu:

- Giọng tự sự lạnh lùng, mỉa mai. Ở đây, tác giả thường dùng đại từ có sắc thái dửng dưng, khinh bạc (hắn, y, thị ... )

- Giọng trữ tình tha thiết với những thán từ: Chao ôi ! Hỡi ôi ! Ơi !

Hai giọng điệu đối lập ấy đan xen hòa hợp tạo nên phong vị riêng cho các trang viết Nam Cao.

Nói về truyện ngắn, phải khẳng định: Nam Cao có đóng góp to lớn đối với sự phát triển của ngôn ngữ văn xuôi. Đến Nam Cao, truyện ngắn nước nhà mới thực sự hoàn thiện một quá trình hiện đại.

Nam Cao xứng đáng là tác gia lớn; ông đã để lại nhiều kiệt tác. Cuộc đời, trang viết Nam Cao là một tấm gương sáng về nhiều mặt cho văn nghệ sĩ muôn đời.

giới thiệu món cá kho quê nam cao

4. Phong cách nghệ thuật

Phong cách nghệ thuật của nhà văn là những đặc điểm nội dung, hình thức riêng bào trùm toàn bộ sáng tác của họ. Trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, Nam Cao là cây bút có phong cách độc đáo.

Viết về nông dân hay trí thức, Nam Cao quan tâm tới đời sống tinh thần của họ và đặc biệt hứng thú với việc khám phá “con người trong con người” (sau vẻ bề ngoài của Chí Phèo, thị Nở, lang Rận... còn có một con người khác mà chỉ những ai cố công tìm hiểu mới phát hiện được) Ông quan niệm “bản tính cốt yếu của sự sống là cảm giác và tư tưởng” (Sống mòn). Cảm giác, tư tưởng càng sâu sắc, linh diệu thì sự sống càng cao. Vì thế, Nam Cao đặc biệt chú ý tới chiều sâu bên trong của con người, coi đó là nguyên nhân của hành động.

Với quan niệm về con người như thế, Nam Cao có khuynh hướng tìm vào nội tâm. Ông có sở trường và biệt tài diễn tả, phân tích tâm lý. Nội tâm nhân vật thành trung tâm chú ý, đối tượng trực tiếp của ngòi bút Nam Cao. Ông đặc biệt sắc sảo khi thể hiện những quá trình tâm lý phức tạp (quỷ dữ thức tỉnh; hiện tượng dở say dở tỉnh; cá tính chấp chới giữa thiện - ác, hiền - dữ, người - vật… Để đi vào chiều sâu không cùng của nội tâm, Nam Cao thường sử dụng những đoạn độc thoại nội tâm chân thật, sinh động.

Mặt khác, trong kết cấu - ông thường đảo lộn trật tự thời gian, không gian, tạo nên kiểu kết cấu tâm lý phóng khoáng, linh hoạt mà vẫn nhất quán, chặt chẽ. Về đề tài, ngòi bút Nam Cao cũng quan tâm đến “Những chuyện không muốn viết” - chuyện nhỏ nhặt, thường ngày. Từ đó, ông đặt ra những vấn đề xã hội, con người, cuộc sống và nghệ thuật chân chính.

Kể chuyện bằng ngôi thứ nhất hay thứ ba, Nam Cao vẫn là nhà văn có giọng điệu riêng:

- Triết lí, mỉa mai, chua chát;

- Dửng dưng, lạnh lùng mà tràn đầy thương cảm, đằm thắm, thiết tha…

Kết luận:

Hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc khi mới 37 tuổi, Nam Cao chưa biết ông được tôn vinh là nhà văn lớn. Hơn nửa thế kỉ đã qua đi, tác phẩm của Nam Cao càng khẳng định giá trị hiện thực sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo. 

Truyện "Từ ngày mẹ chết" - Nam Cao

Tác phẩm "Một truyện Xu-vơ-nia" của Nam Cao

Tìm hiểu về món cá kho làng Vũ Đại

Cá kho làng Vũ Đại là đặc sản nổi tiếng của làng Nhân Hậu, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Món cá kho này có từ rất lâu đời, đến năm 2009, con trai của "nghệ nhân" cá kho Trần Luận là Trần Bá Nghiệp chính thức đặt tên cho món ăn là "Cá kho làng Vũ Đại". Anh Nghiệp cũng là người đầu tiên đưa hình ảnh, thông tin lên mạng Internet tạo ra sự tò mò thích thú cho khách hàng và cả những người làm báo, từ đó, món cá kho này trở nên nổi tiếng và được nhiều người đặt mua thưởng thức.

Nguyên liệu chính của món đặc sản Hà Nam này là những con cá trắm đen to , ngon, chắc thịt kho theo công thức gia truyền cùng với gia vị 100% tự nhiên như gừng, giềng, hành, ớt,  nước cốt chanh, nước cốt cua đồng....Đặc biệt, cá được kho trong niêu đất, trên bếp lửa trong thời gian 16 đến 20 tiếng nên vừa có vị thơm của lửa, vừa phảng phất những hương vị đồng quê, ăn rất tốn cơm, người già trẻ nhỏ không lo hóc xương, ai ai cũng thích.
 Liên hệ đặt mua qua Hotline hoặc Zalo:  0988.999.525 (Hà Nội và miền Bắc & miền Trung) - 0938.187.134 (Sài Gòn và miền Nam) 

Fanpage: https://www.facebook.com/cakhotranluan525 - Google Map: Cá kho làng Vũ Đại

Quá trình hình thành nên sự nổi tiếng của Cá kho làng Vũ Đại ?

Người dân làng Vũ Đại bắt đầu đưa món cá kho vào kinh doanh từ năm 1981, tuy nhiên món đặc sản này vẫn chưa thực sự biết đến rộng rãi vì khách hàng chỉ biết thông qua truyền miệng và muốn mua một nồi cá phải đặt trước cả tuần và về tận làng để lấy.

cơ sở cá kho làng vũ đại đầu tiên

Biển hiệu của cơ sở cá kho Trần Luận từ những năm 2009

Đến năm 2009, cơ sở chế biến cá kho Trần Luận của gia đình bác Trần Bá Luận đã đi đầu trong việc đưa món cá kho lên giới thiệu trên mạng Internet với cái tên "Cá kho làng Vũ Đại".

Website đầu tiên bán cá kho của Trần Luận, cũng là website khai sinh ra món cá kho làng Vũ Đại chính là www.amthuccotruyen.com được lập tháng 06/2009 bởi con trai của "nghệ nhân" cá kho Trần Luận. Thông tin chủ yếu là các hình ảnh, clip, công thức, giới thiệu về món cá kho này. 

Video Clip đầu tiên về món cá kho làng Vũ Đại từ năm 2009

Cho tới tận tháng 12/2009, Trần Luận có đơn hàng đầu tiên từ webiste, vậy là từ đó: một đồn 10, 10 đồn 100, số lượng khách hàng từ khắp mọi nơi tăng lên nhanh chóng. Cơ sở cá kho Trần Luận bắt đầu  thiết lập kênh phân phối trên toàn quốc, đặc biệt là chính sách “giao hàng đến tận nhà” giúp thuận tiện hơn cho khách hàng trong việc mua cá kho để ăn hoặc làm quà biếu, nhờ đó, báo chítruyền hình biết đến và quảng bá rộng rãi cho món ăn đặc sản nổi tiếng này.

ca kho lang vu dai tren tivi
Thông qua nhiều kênh truyền hình đưa tin, món cá kho làng Vũ Đại của cơ sở Trần Luận ngày càng được biết đến và mở rộng

Không chỉ ở Việt Nam, cơ sở Cá Kho Trần Luận còn đi đầu trong việc đưa món ăn này vươn ra khỏi lãnh thổ Việt Nam và được Google nhiều lần mời tham dự các sự kiện quảng bá món ăn này với bạn bè quốc tế

ca kho lang vu dai tai singapore

Trần Bá Nghiệp đại diện cho cơ sở Trần Luận giới thiệu món cá kho tại Singapore

 

Giờ đây hầu như người dân cả nước ai ai cũng nghe tiếng món cá kho làng Vũ Đại, rất nhiều người thưởng thức, ai ai cũng khen ngon. Tuy nhiên, thực khách hầu như chỉ biết món cá kho này rất cầu kỳ từ công đoạn chuẩn bị chứ ít người biết được quy trình kho cá thế nào. 


Quy trình kho cá làng Vũ Đại như thế nào ?
nieu dat kho ca lang vu daiKhâu chuẩn bị:
Niêu đất: Niêu đất chuẩn phải lấy từ Nghệ An vì chất đất ở đây tốt có thể đảm bảo độ bền trong quá trình kho gần 24 tiếng, vung của niêu phải lấy từ Thanh Hóa vì loại vung ở đây được thiết kế theo kiểu vòm lên dễ hơn trong việc kho cá. Trước khi kho phải cho 1 nắm gạo vào niêu đất để “tôi” sau đó phơi nắng cho niêu thêm chắc chắn

 

Xem thêm: Làng làm niêu đất nghệ an nổi tiếng 

 

Củi lửa: Cá kho bằng củi nhãn, vì theo người dân ở làng, nồi đất kho bằng củi nhãn sẽ làm mất mùi đất nung và làm cho món cá có hương thơm hấp dẫn hơn. Trong quá trình kho cần phải ủ trấu để giữ nhiệt cho nồi luôn trong trạng thái sôi lục bục

 

Xem thêm: Tại sao kho cá bằng củi nhãn lại ngon hơn ?

cui kho ca lang vu dai

Gia vị đồng quê: Phải chọn toàn bộ gia vị tự nhiên: gừng, giềng , chanh, nước cốt cua đồng, hành , tiêu (hoặc ớt ), nước cốt xương sườn lợn ….

gia vi kho ca

Niêu đất sau khi rửa sạch phải lót ở bên dưới một lớp giềng lát để cá không bị cháy
Cá được chọn để kho phải là loại cá tươi, hiện tại có 2 loại cá người dân thường kho là cá trắm đen và cá rô đồng. Sau khi mổ cá, bỏ lại đầu và đuôi, cho cá luôn vào niêu đất sau đó phủ một lớp giềng + gừng + hành khô giã lên trên, cho mắm , muối, gia vị vào và bắt đầu kho.

nguoi dan ong lap nghiep tuoi 50

Trong quá trình kho, khi cạn nước, cần hòa nước dùng ( kẹo đắng ) vào nước cốt chanh, nước cốt của và một số gia vị cổ truyền khác có pha thêm chút nước để thường xuyên tra vào làm cá không bị cháy, phải cho nồi cá sôi sùng sục trong suốt 20 – 24 tiếng đồng hồ.

Sau khi kho xong, cần dùng quạt điện để quạt nguội hẳn cá trước khi đóng hộp nguyên nồi và chuyển cho khách hàng
Khúc cá có màu đen nâu thịt cứng , xương mềm, khi ăn không phải bỏ đi một chút nào thì mới đúng tiêu chuẩn chất lượng.

san pham ca kho lang vu dai
 

Cá kho làng Vũ Đại giá bao nhiêu ?

bảng giá cá kho làng vũ đại

Trên đây là báo giá các loại niêu cá kho làng Vũ Đại tại Hà Nội, các tỉnh miền Bắc, miền Trung chưa bao gồm phí vận chuyển.

Do sản phẩm cá kho là chế biến sẵn không có chất bảo quản nên Ở Sài Gòn và các tỉnh phía Nam, chúng tôi phải gửi hàng qua máy bay nên có phát sinh cước phí vận chuyển khoảng 200k 

Quý khách vui lòng tham khảo:  Phí vận chuyển cá kho làng Vũ Đại trên toàn quốc 

Liên hệ : Cơ Sở Cá Kho Làng Vũ Đại: Trần Luận

Địa chỉ sản xuất: Thôn 2, xã Hòa Hậu - Lý Nhân - Hà Nam

Tại Hà Nội và các tỉnh miền Bắc, Trung: Chung cư số 349 Vũ Tông Phan , Thanh Xuân , Hà Nội (vui lòng liên hệ trước khi đến)

 

Tại TP HCM và các tỉnh miền Nam: 638 Phạm Văn Bạch, Gò Vấp , TP HCM

Điện thoại/Zalo: 0988.999.525 

Website: Ngoài website chính thức là www.cakhotranluan.com , quý khách có thể tham khảo thêm thông tin trên 02 webiste  www.cakholangvudai.com.vn - www.cakhotranluan.ne
Facebook fanpage: https://www.facebook.com/cakhotranluan525 

Vui lòng xem thêm: Phí vận chuyển cá kho làng Vũ Đại trên toàn quốc

Tài khoản ngân hàng của cơ sở cá kho Trần Luận : 0860100349999 - Trần Bá Nghiệp, ngân hàng Quân Đội MB

Tìm hiểu thêm về món cá kho làng Vũ Đại trên báo chí , truyền hình

Vào mỗi dịp Tết đến xuân về, người dân miền Bắc thường dùng món cá kho làng Vũ Đại. Xuất hiện từ cách đây vài chục năm, người dân làng Vũ Đại (Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam) đã nghĩ ra cách kho cá này để bảo quản được lâu, dùng dần cả tháng trời mà vẫn ngon. đảm bảo hương vị của nó. Công đoạn chế biến tuy công phu và mất nhiều thời gian nhưng bù lại bạn sẽ có một nồi cá kho ngon đúng điệu. Thịt cá săn lại, ngấm đều gia vị, xương mềm, thơm, không tanh.

Món cá kho Làng Vũ Đại có gì đặc biệt?

Cá kho làng Vũ Đại Trần Luận được chế biến theo bí quyết gia truyền, được người dân làng Vũ Đại lưu giữ bao đời, cần mẫn và tỉ mỉ. Vì vậy, các sản phẩm đến tay người tiêu dùng luôn giữ được hương vị thơm ngon nổi bật và hương vị đặc trưng. Sản phẩm cá kho Làng Vũ Đại của Trần Luận được Sở Y tế tỉnh Hà Nam chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm.

Cá kho làng Vũ Đại Trần Luận được sử dụng từ loại cá trắm đen nuôi ốc hương, thịt dày, chắc, vị ngọt và thơm. Cá trắm được sơ chế sạch bằng vỏ chanh, sau đó trộn với các nguyên liệu khác như dăm bông, gừng, chanh, nước mắm ớt, thịt ba chỉ và các gia vị khác.

Cá làm sạch được xếp vào nồi đất, dưới đáy nồi trải một lớp hương vị để cá được thơm và không bị cháy. Tiếp đến là những miếng cá lớn được xếp lần lượt cùng các loại gia vị được chế biến theo công thức bí truyền. Cá được kho kỳ công, cá được kho bằng củi, than củi cháy lâu, làm cá them đậm đà. Cá kho liên tục trong 16 giờ, nghệ nhân phải túc trực thêm nước, gia vị cho đến khi cá chín.

Cá kho Làng Vũ Đại chính hiệu với thịt mềm nhưng vẫn giữ được vị ngọt tươi, thơm ngọt, từng miếng ba chỉ đọng lại lớp mỡ bên trong, khi ăn có cảm giác như tan dần trong miệng. Mùi thơm của cá, thịt và các loại gia vị truyền thống hòa quyện tinh tế tạo nên một món đặc sản thơm ngon, đậm đà hương vị.

Món cá kho làng Vũ Đại được chế biến công phu tới 16 tiếng với hơn 10 loại gia vị khác nhau đã rất nổi tiếng và trở thành đặc sản của Hà Nam. Thưởng thức món chả cá này bạn sẽ cảm nhận được vị đậm đà thấm đều trong từng thớ thịt cá, ngon không cưỡng lại được. Cùng học bí quyết làm cá kho làng Vũ Đại ngay dưới đây nhé!

Nguyên Liệu Làm Cá Kho Làng Vũ Đại

Cách làm cá kho làng Vũ Đại

Bước 1: Giã nhỏ hành khô, gừng với 50g riềng. Lưu ý, bạn nên giữ lại phần vỏ khô trong cùng của hành, chúng sẽ giúp món cá kho tộ có màu đẹp mắt hơn.

Bước 2: 50g riềng còn lại, bạn thái thành từng lát mỏng và xếp xuống đáy nồi đất.

Bước 3: Tiếp theo, bạn xếp sườn lên trên lớp riềng trong nồi.

Bước 4: Về phần cá, bạn sơ chế thật sạch, rửa thật sạch, thấm khô rồi cho vào nồi, cho sườn và riềng lên trên. Lưu ý, bạn nên cho phần đầu và đuôi của cá vào trước rồi mới đến các khúc ở giữa.

Bước 5: Rắc hành, riềng, gừng đã đập dập và thêm nước mắm, tiêu, ớt lên trên cá trong nồi.

Bước 6: Đổ nước dừa vào nồi sao cho ngập cá.

Bước 7: Kho cá ở lửa thật nhỏ trong khoảng 16 - 20 tiếng. Khi nước trong nồi cá sôi, bạn đổ đều nước cốt chanh lên trên rồi đậy nắp lại và tiếp tục kho. Chú ý đổ thêm nước dừa vào nồi cá trong quá trình kho đến khi cạn còn 1 tiếng.

Người làm thủ công cần kho cá từ 18 đến 20 tiếng để có thể nấu được một nồi cá ngon trong quá trình kho cá và Giữ nhiệt độ ổn định là điều không hề đơn giản. Giữ nhiệt độ của nồi không đổi và thường xuyên kiểm tra xem nồi cá có bị đầy nước không. Nếu sắp cạn nước thì phải cho thêm nước đã pha vào và tiếp tục kho trong 20 giờ. Trong suốt quá trình đó, người nghệ nhân mới nhận ra cách chế biến món cá kho của Vũ Đại công phu và khó khăn như thế nào.

Để đặt hàng nhanh chóng và nhận hàng trong thời gian sớm nhất, quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp qua Hotline 0988.999.525 

Hiện nay, cá kho Làng Vũ Đại đã có các cửa hàng ở Hà Nội và TP. HCM Quý khách có thể hoàn thành đơn hàng và nhận hàng trong vòng 02 giờ